App Bói Toán

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề App Bói Toán xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 16/01/2021 trên website Xuatannanghe.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung App Bói Toán để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 8.712 lượt xem.

Có 3 tin bài trong chủ đề【App Bói Toán】

【#1】Những Điều Cần Biết Trong Thuật Bói Toán

Xem bói toán, ngày giờ, phong thủy, tử vi,…đúng hay sai? Chưa thể kết luận được. Nhưng điều thấy rõ nhất là mục đích của việc xem bói chính là muốn biết về vận mệnh tương lai về gia đạo, về việc làm ăn để có cách chuyển hóa. Đây là nhu cầu của mọi người, kể cả Phật tử. Vì ai cũng mong muốn được hạnh phúc, giàu sang nên họ thường sinh ra tâm lý lo lắng về tương lai của mình, muốn tìm một chỗ dựa tinh thần để làm niềm tin cho mình.

Bói toán đã có mặt từ rất lâu trước khi đạo Phật ra đời. Chúng ta xem lại lịch sử Phật giáo, khi Thái Tử ra đời, vua cha đã cho mời A Tư Đà xem tướng cho Ngài. Và trong các triều đại phong kiến, các bậc vua chúa, quan thần cũng xem chiêm tinh để dự đoán cho vận mệnh của quốc gia hay của một trận chiến. Vì thế, bói toán đã ăn sâu vào tâm huyết của mọi người.

Các hình thái của bói toán phổ biến hiện nay gồm: bói bài, tướng số, tử vi, phong thủy, xin sâm, xem chỉ tay.

Vì sao gọi là thuật bói toán? Bởi những hình thức của bói toán đều dựa trên những nguyên lý khoa học, hiển nhiên của vũ trụ để tiên đoán

Thông thường khi bói bài, chủ bói sẽ bảo bạn nhắm mắt lại, thành tâm nghĩ về điều mong muốn trong 30 giây và bốc 1 lá bài. Đó chính là thuật bói bài mà chúng ta cần lý giải về hành động này.

Trong vô vàn quy luật của vũ trụ có tồn tại luật hấp dẫn, đây chính là tác động của chúng ta và vũ trụ này. Luật hấp dẫn vận động như sau: Khi chúng ta khởi một ý niệm tốt xấu, thiện ác nó sẽ tạo ra năng lượng truyền tải vào vũ trụ và sẽ vũ trụ sẽ tác động tương đương. Điều này không thể thấy bằng mắt thường hay lý giải bằng khoa học được, nên gọi đó là tâm lý.

Một con người hay buồn thì dễ gặp những người làm phiền và những chuyện bất như ý cứ xảy ra. Chúng ta lại càng chán nản, không muốn thì lại gặp thường xuyên hơn.

Tín hiệu phát ra trong tâm ta đến vũ trụ, nó sẽ không phân biết tốt xấu như thế nào, mà nó vận hành theo quy luật, theo một nguyên tắc mà chúng ta nhận lại thì biết nó tốt hay xấu. Nên đa phần người ta bảo cứ ước mơ, hi vọng đi rồi sẽ đạt được, mà đạt được bao nhiêu phần trăm thì nhờ vào phước báu.

Dựa vào luật này, khi ý niệm tác động vào những lá bài với tâm niệm đang khổ, đang buồn, đang lo về vấn đề nào, trong tâm ta tỏa ra năng lượng đến vũ trụ, nó sẽ tác động lại khiến trong vô thức dẫn đến tay chúng ta phải bốc 1 lá bài mà cơ bản là những lá bài đó đã được định sẵn hình ảnh này là tốt xấu, thì chính cái đó tương đồng. Nên tư duy đã tác ý thì lá bài đó sẽ tương đương với tâm trạng của chúng ta. Nên người thành tâm bói mới trúng, vì chính thành tâm nên chúng ta dồn hết các ý tưởng để xây dựng một năng lượng trong khát khao, nó đã định hình lên điều đó.

Vì tự trong vô thức nó đã dựa vào khát khao của chúng ta hình dung lên được điều đó. Nên hầu như đa phần tâm trạng như thế nào sẽ bóc lên lá bài tâm trạng như thế đó. Những người khổ đau sẽ bốc lên lá bài tương đương nên người bói nhìn vào đó xác định được tâm lý của chúng ta. Và qua các biểu hiện của giác quan trên con người chúng ta thì người ta sẽ có cách nhận diện ra con người của chúng ta nhiều hơn.

Đa phần những người đi bói bài mà bói chơi thầy bói bói không được, trong lòng chúng ta vô tư. Vì nó không phản ánh được tâm trạng chúng ta vì chúng ta không để tâm vào đó mà biểu hiện qua cử chỉ, nét mặt nên người bói không thể phán đoán được.

Trong đạo Phật không dạy cách bói mọi thứ mà dạy chúng ta cách làm chủ tâm, cách khởi ý niệm, cách chuyển hóa tâm. Thay đổi ý niệm, thay đổi tâm để chúng ta tác động ra bên ngoài những ý nghĩ tốt, những suy nghĩ tích cực, những năng lượng tốt trong gian này để những điều tốt, để điều may mắn, những điều tích cực, những người lương thiện xuất hiện trước mặt để mang đến sự an vui cho chúng ta.

Cho nên, đừng suy nghĩ rằng những ý nghĩ của chúng ta không ai biết mà thật sự nó đang tồn tại trong không trung này, để chờ khi có một điều tương ưng nó sẽ kết hợp vào.

Xem chỉ tay

Chỉ tay cũng thể hiện tâm trạng và thể trạng của chúng ta. Họ dựa vào chỉ tay có thể biết chúng ta khỏe mạnh ốm yếu như thế nào. Những người không khỏe đường chỉ tay không sắc nét và mặt chỉ tay không hồng hào mà tái xám. Những chỉ tay hay gò chỉ tay phản ánh được sức khẻ của bộ phận trong cơ thể, đó đều dựa trên cơ sở khoa học nên họ nắm được chúng ta đang như thế nào. Tương tự thế, tâm trạng thay đổi thì chỉ tay của con người cũng thay đổi theo.

Nhìn vào dáng vẻ của con người có thể đánh giá được tính của họ như thế nào. Ngày xưa các sư thầy cũng dựa vào nhân tướng học để chọn đệ tử, chăm sóc nuôi dạy nên người. Ví dụ thiền sư Lý Khánh Vân, thiền sư Vạn Hạnh đã nhận nuôi Lý Công Uẩn để sau này ông lên làm vua vì các vị ấy nhìn vào những biểu hiện kiệt xuất anh tài, những cốt cách từ thuở bé hình thành từ phước đức nhiều đời nên nhìn được con người tương lai như thế nào?

Theo Phật dạy, con người là biểu hiện của nghiệp. Tùy vào nghiệp thiện ác của chúng ta mà nó biểu hiện con người chúng ta qua các giác quan. Nếu hiểu về điều đó, chúng ta tự chuyển nghiệp để phần nào thay đổi hình tướng của mình. Bên cạnh đó, dựa vào nhân tướng học cũng là cách để chúng ta nhìn thấy được con em mình như thế nào để phát huy hay chuyển hướng chúng thành con người tốt hơn. Đối với đạo Phật thì cái gì cũng thay đổi được.

Những người sinh ra tính rất xấu, hung tợn, đó có thể là chúng sanh từ ba đường ác tái sinh nên chưa hoàn thiện nhân cách của con người. Có những người nhân cách cao quý, rộng lượng bao dung, đó là chúng sanh có tu tập tốt hoặc hết phước cõi trời tái sinh vào kiếp người.

Con người sinh ra gắn liềm với nghiệp thiện ác từ kiếp trước rất nhiều, nó thể hiện qua dung nghi, các căn cà tinh cách để các nhà nhân tướng học dựa vào đây đánh giá một vấn đề.

Trong đạo Phật không đặt nặng vấn đề bói toán.

Trong kinh Di Giáo Đức Phật khuyên các vị tỳ kheo là: Không được bói toán, xem đoán kiết hung, tốt xấu lành dữ, không được dùng đó làm nghề kiếm sống.

1. Cúi mặt mà ăn: khom lưng cày cấy trồng tỉa, vì thời đó chư tăng chỉ đi khuất thực nên không lao động cày cấy sẽ ảnh hưởng sinh mạng chúng sinh

2. Ngước mặt mà ăn: Không được xem tinh tú để dựa hành nghề này mà ăn

3. Vuông miệng mà ăn: Không được nịnh nọt người thế tục để được quyền lợi

4. Soi quanh bốn phía mà ăn: Là những tỳ kheo sống bằng nghề coi hướng, phong thủy. Đó chính là những điều Đức Phật cấm trong kinh điển và trong luật

Trong đạo Phật cũng có cách để xem quá khứ, hiện tại và vị lai. Chẳng những biết một đời mà biết nghìn đời. Sự thật một người tu hành đạt được chánh quả thì đời sống quá khứ và tương lai nằm trong lòng bàn tay. Các thánh đệ tử của Đức Phật ít nhất biết 100 kiếp của chúng sanh ở đời vị lai và quá khứ.

Nên những người không nắm được mục đích tu hành chọn đây là một cái nghề. Nhưng nắm được mục đích tu hành thì dưới cái nhìn tuệ giác thì đây rất bình thường. Hai tuệ giác trong đạo Phật nhìn được vấn đề này là: Túc mạng thông, thiên nhãn thông. Hai cái nhìn này giúp một bậc tuệ giác nhìn xuyên thấu chúng sanh sẽ tái sinh về đâu sau khi mất, ở thân phận gì nhưng điều duy nhất Đức Phật không làm được chính là can thiệp vào nghiệp của chúng sinh.

Bói toán là hành động không xấu cũng không tốt dựa theo sự nhìn nhận của chúng ta. Bởi bói toán tử vi đáp ứng nhu cầu nguyện vọng hạnh phúc, ấm no chính đáng của đại bộ phận con người trần gian, kể cả Phật tử. Khi cuộc sống cá nhân tốt đẹp mới phụng sự đạo pháp tốt được. Mà đức Phật chỉ dạy đừng nên dùng mưu hại người để đạt được cái gì đó cho riêng mình. Đức Phật cũng khuyến khích chúng ta nên xây dựng hạnh phúc trên nền tảng đạo đức.

– Bói toán thường xen lẫn vào những lời khuyên thiện lành trên tinh thần Phật giáo để hướng con người cách sống cho thiện và điều chỉnh lại cách ứng xử cho đẹp hơn.

– Bói toán là kênh trung gian dành cho những người chưa hiểu đạo, được nắm rõ thế nào là hành động xấu ác để tránh và khuyến khích hành thiện để làm lợi lạc.

– Một người chỉ sống dựa vào bói toán họ sẽ dễ mất phương hướng, bị điên đảo và sống một cách mơ hồ.

– Một số chủ bói không lương tâm, lợi dụng lòng tin để đầu độc nhiều người rơi vào tà kiến, sống mê tín để tan nhà nát cửa.

– Khiến người khác ỷ lại khi được phát là tốt đẹp, và hoang mang, lo sợ khi bị phán là xui rủi

Cho nên, trên tinh thần của người học Phật chúng ta có thể xem bói toán để giải trí, để tìm hiểu nhưng áp đặt những điều được phán là cuộc đời của mình. Phải dựa vào nhân quả là tiêu chuẩn để nhìn nhận hạnh phúc khổ vui của mọi người, bởi cách nhìn của Phật học là toàn diện nên bói toán cũng dựa vào đó để ổn định hơn.

Tóm lại, qua bài Những điều cần biết trong thuật bói toán chúng ta rút ra kết luận rằng: Khi làm thiện lành, dù thế nào chúng ta vẫn ít bị ảnh hưởng gì mà vẫn sống hạnh phúc, bình yên và thảnh thơi. Bởi có phước vượt qua tất cả. Như cổ đức đã dạy: Đức trọng quỷ thần kính sợ. Hơn nữa, phải hiểu luật nhân quả trong Phật giáo là gốc của mọi sự khổ vui, hiện tượng chỉ là ngọn, là kết quả của một vấn đề. Muốn thay đổi vấn đề phải thay đổi từ gốc, thay đổi từ nhân.

Dựa vào bài giảng: Những điều cần biết trong thuật bói toán – Thầy Thích Phước Tiến

(Nguồn: Blog Phật Giáo)


【#2】Đôi Điều Về Bộ Bài Tarot Huyền Bí Trong Bói Toán Phương Tây

Gần đây, bói bài Tarot đang dần trở nên phổ biến, ngay cả ở Việt Nam. Tuy nhiên, khác với những hình thức bói toán khác – sẽ dự đoán tương lai hay số mệnh của bạn, cỗ bài Tarot chỉ đơn thuần giúp bạn tìm ra hướng đi đúng cho tương lai.

Lịch sử bài Tarot

Theo nhà sử học Tarot Tom Tadfor Little, những lá bài xuất hiện đầu tiên có nguồn gốc từ đạo Hồi, những người châu Âu đã mang nó về vào năm 1375. Nhưng thực tế, cỗ bài đó không giống với bài Tarot hiện nay. Mãi đến năm 1440 thì bộ bài mới giống với bài Tarot hiện nay. Trong một bức thư của Duke of Milan, đã có rất nhiều yêu cầu làm các cỗ bài khác nhau để sử dụng trong các dịp trọng đại.

Và, năm 1530, cỗ bài Tarot đầu tiên được tạo ra như một trò chơi. Cỗ bài gồm 4 chất với các lá bài đánh số từ một đến mười, và còn có các quân bài Hoàng gia như Queen, King, Knight và Page. Ngoài ra cỗ bài gồm thêm 22 quân bài biểu tượng không thuộc bất cứ chất nào. Cỗ bài này được gọi là triumph. Trong cỗ bài triumph, 21 trong số 22 lá bài đặc biệt là các quân bài chủ. Trò chơi này nhanh chóng lan truyền khắp mọi nơi trên châu Âu. Mọi người bắt đầu gọi nó với cái tên tarocchi, là tên tiếng Italian của từ tiếng Pháp tarot.

Năm 1781, ở Pháp và Anh, những người theo trường phái huyền bí khám phá ra những lá bài Tarot. Họ thấy rằng những biểu tượng trên lá bài có nhiều ý nghĩa hơn việc chỉ là trò chơi thông thường. Và rồi họ bắt đầu sử dụng bài Tarot như một công cụ bói toán, rồi các tài liệu nói về Tarot ngày một nhiều. Sau đó, cỗ bài Tarot trở thành một phần của triết lý huyền bí.

Ngoài ra, cũng có nhiều nguồn tin cho rằng cỗ bài Tarot có xuất xứ từ Ai Cập, rằng đây là một trong những cuốn sách duy nhất còn sót lại sau một vụ hoả hoạn đã đốt cháy toàn bộ thư viện cổ của Ai Cập. Với giả thiết này, những lá bài được coi như là những chiếc chìa khoá tượng hình của cuộc sống thời Ai Cập cổ.

Bộ bài Tarot

Một cỗ bài Tarot bao gồm Bộ Ẩn Phụ – Minor Arcana và Bộ Ẩn Chính – Major Arcana. Giống như những cỗ bài Tây khác, bộ ẩn phụ gồm 4 “chất”, nhưng thay vì rô-cơ-bích-tép, thì 4 chất ở bộ ẩn phụ là: Wands, Swords, Cups và Circles (hay Pentacles).

Mỗi chất đều có một ý nghĩa tương ứng với một khía cạnh nào đó của cuộc sống. Những quân bài chứa 4 chất này được đánh số từ 1 đến 10, và thêm các quân bài Hoàng gia: The King, Queen, Knight và Page. Bộ ẩn phụ cho biết những điều “phụ”, tức là những khía cạnh nhỏ và thường ngày trong cuộc sống.

Bộ ẩn chính không có chất. Chúng bao gồm những quân bài có hình riêng và thể hiện những nguyên tắc, quan niệm và lý tưởng. Chúng được đánh số từ 1 đến 21, và quân bài thứ 22 – The Fool – được đánh số 0. Bộ ẩn chính thể hiện năng lượng mạnh, lâu dài hay những sự kiện lớn trong cuộc sống.

Tarot Spad

Bước đầu tiên của bói Tarot, là người được bói sẽ bốc một số lượng bài nhất định từ bộ bài. Vài ý kiến cho rằng làm vậy để “truyền năng lượng” từ người đó cho bộ bài. Người được bói cần phải tập trung vào câu hỏi hoặc vấn đề mà họ cần lời khuyên trong lúc rút các lá bài. Theo truyền thống thì còn có nhiều bước phức tạp hơn nữa.

Khi các lá bài được rút xong, thầy bói sẽ xếp những lá bài đó theo thứ tự thành một khuôn mẫu gọi là spad. Mỗi vị trí trên spad đều có ý nghĩa nhất định, và hiện tại có rất nhiều cách để xếp spad, từ một lá bài đơn lẻ trong bộ đến cách xếp toàn bộ 78 lá bài. Việc sử dụng spad nào phụ thuộc vào người đọc bài và kiểu câu hỏi hay vấn đề của người được bói. Một số spad tập trung nhiều hơn đến một vài loại thông tin nhất đinh. Ví dụ, một spad có thể chuyên để bói về chuyện tình cảm, spad khác lại tập trung vào mối quan hệ với người khác. Một trong số những spad phổ biến nhất là Celtic Cross. Thực tế tồn tại rất nhiều spad thường dùng, và đặc biệt người đọc bài còn có thể tự tạo spad của riêng mình.

Ví dụ trong spad Celtic Cross, bạn có thể thấy có một trật tự nhất định trong spad này, và mỗi lá bài ở mỗi vị trí đều thể hiện một ý nghĩa nào đó. Và mỗi vị trí lại có nhiều ý nghĩa khác nhau, điều này phụ thuộc vào người hỏi. Và còn nữa, ý nghĩa mỗi lá bài còn có thể được kết hợp với các lá bài khác, chúng ảnh hưởng lẫn nhau và tạo ra sự thay đổi trong ý nghĩa mỗi lá bài.

Phương pháp bói bài Tarot

Hiện nay có hai phương pháp bói Tarot khác nhau: bói qua câu hỏi và bói mở.

Với cách bói qua câu hỏi – question readings – bạn phải có một câu hỏi cụ thể nào đó. Tarot sẽ không đưa ra câu trả lời chính xác; nhưng qua những lá bài Tarot, bạn có thể định hướng và tự đưa ra quyết định cho chính bản thân mình. Quá trình bói Tarot qua câu hỏi phải làm đúng trình tự, điều này rất quan trọng. Bạn phải:

– Sử dụng những câu hỏi “mở”: nếu câu hỏi của bạn là câu hỏi “đóng”, thì bộ bài Tarot sẽ không giúp thêm được gì cho bạn cả. Ví dụ với câu hỏi sau: “Làm thế nào để mẹ chồng tôi đồng ý với việc vợ chồng tôi sẽ chuyển ra ở riêng” – khác hẳn với việc hỏi “Làm thế nào để chung sống hoà bình với mẹ chồng”. Hãy bắt đầu từ nguồn gốc của vấn đề (chung sống hoà bình) chứ không phải là từ những lựa chọn (chuyển ra ở riêng) của bạn.

– Tìm mức độ cụ thể phù hợp: Câu hỏi của bạn cần phải đủ để định hướng, nhưng không được quá cụ thể. Thay vì việc tìm hiểu về một mặt nào đó cụ thể, bạn cần tìm cách nhìn rộng hơn, bao quát hơn về vấn đề. Ví dụ, thay vì hỏi ‘làm thế nào để cuộc sống gia đình bớt lộn xộn hơn”, thì hãy hỏi rằng “làm thế nào để cân bằng thời gian biểu của con trẻ và thời gian biểu của người lớn”. Rõ ràng câu hỏi sau tập trung vào vấn đề “thời gian biểu”, và vậy là hợp lý. Nhưng đừng đặt câu hỏi theo kiểu “Làm thế nào để sắp xếp lịch chơi bóng rổ, bóng đá, cầu lông… mà vẫn có thời gian quan tâm tới gia đình” – câu hỏi này thì lại quá cụ thể về “lịch chơi thể thao” rồi. Thông tin trong câu hỏi phải ở một mức độ phù hợp, không chung chung quá nhưng cũng đừng cụ thể quá.

– Tập trung vào bản thân bạn: nếu là bói cho bạn, hãy đảm bảo rằng câu hỏi này tập trung vào bạn nhiều hơn là tập trung vào những đối tượng khác, ngay cả khi đó là chủ thể của vấn đề. Ví dụ, câu hỏi “tại sao con trai bạn lại hút thuốc lá” là tập trung vào con bạn, chứ không phải là bạn. Hãy hỏi là “bạn có vai trò gì, bạn có làm gì khiến con bạn hút thuốc lá hay không” sẽ là câu hỏi chuẩn.

– Trung lập: hãy đặt câu hỏi một cách trung lập, đừng quá thiên về một mặt hay một hướng giải quyết nào đó. Như vậy lá bài Tarot sẽ giúp bạn có được định hướng tốt. Ví dụ, “Tại sao tôi lại phải làm việc nhà nhiều hơn vợ tôi” không phải là câu hỏi trung lập, thay vì đó, hãy hỏi “Làm thế nào để vợ chồng tôi có thể chia sẻ việc nhà với nhau” mới là tốt.

– Lạc quan: Đảm bảo rằng câu hỏi của bạn mang tính lạc quan, mong chờ điều gì đó. Thay vì hỏi tại sao may mắn không đến như mong đợi, hãy hỏi rằng làm thế nào để may mắn đến với bạn.

Phương pháp thứ 2, bói mở – Open Readings – hướng đến các mặt rộng hơn của cuộc sống chứ không gói gọn trong các câu hỏi như question readings. Thường thì những vấn đề này đều có mốc của nó, ví dụ như khi bạn lập gia đình, khi bạn tốt nghiệp đại học,… Bạn có thể hướng đến một mảng nào đó, ví dụ như sức khoẻ, hay sự nghiệp… và kết quả của lần bói này cũng sẽ tương ứng với chúng.

Để trở thành một người bói bài Tarot

Để học được nghệ thuật bói bài Tarot, bạn có thể đọc sách, tham gia các khoá học và thậm chí có thể được cấp chứng chỉ. Các khoá học được dạy online bởi các giáo viên dạy Tarot hoặc các tổ chức Tarot.

  • Certified Appntice Tarot Reader (CATR)
  • Certified Tarot Reader (CTR)
  • Certified Professional Tarot Reader (CPTR)
  • Certified Tarot Consultant (CTC)
  • Certified Tarot Master (CTM)
  • Certified Tarot Instructor (CTI)
  • Certified Tarot Grandmaster (CTGM)

Ngoài ra còn có các chứng chỉ được cấp bởi American Board for Tarot Certification bao gồm 5 cấp độ:

  • Tarot Associate (TA)
  • Tarot Professional (TP)
  • Tarot Masters (TM)
  • Tarot Education (TE)
  • Tarot Sage (TS)

Một vài quốc gia khác có hệ thống chứng chỉ Tarot riêng của mình.

Tham khảo Howstuffworks


【#3】Chiêm Tinh Học Và Thuật Bói Toán Tại Việt Nam Cổ Truyền

(University of Tsinghua, Beijing)

CHIÊM TINH HỌC VÀ THUẬT BÓI TOÁN TẠI VIỆT NAM CỔ TRUYỀN Lời Người Dịch:

Ngô Bắc dịch

*** Dẫn Nhập: Bối Cảnh Lịch Sử

Điều lạ lùng là tác giả không hề nói gì về Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, người được xem là nhà tiên tri nổi tiếng nhất của Việt Nam, kẻ mà người dân Việt Nam nào cùng nghe biết đến qua các lời được cho là sấm truyền của cụ trong hơn 500 năm qua, tuy chẳng hiểu biết một cách xác thực về nhân vật gần như huyền thoại này./-

Miền bắc của Việt Nam ngày nay đã từng chính thức trở thành một tỉnh của Đế Quốc Nhà Hán Trung Hoa vào cuối thế kỷ thứ 2 Trước Công Nguyên , quốc gia Việt Nam mới khai sinh đã thực hiện một hệ thống thư lại tương tự như hệ thống của triều đại nhà Tống Trung Hoa (960-1279), kể cả các định chế giáo dục và hệ thống khảo thí. Ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa vẫn còn mạnh trong suốt các triều đại Việt Nam liên tiếp nhau, và còn trở nên mạnh hơn trong và sau sự chiếm đóng ngắn ngủi của Trung Hoa tại Việt Nam trong các năm 1407-1427. Chính sách thực dân của Pháp đã khởi sự với chiến dịch Nam Kỳ (Cochinchina) trong các năm 1858-1862 đánh dấu bước khởi đầu của một sự suy sụp mau chóng học thuật Trung-Việt cổ truyền và phát súng ân huệ quyết định đã được bắn ra với sự xóa bỏ hệ thống khảo thí quốc gia trong năm 1919.

Chiêm Tinh Học Việt Nam: Các Nguồn Tài Liệu Chính Yếu Và Văn Chương Thứ Yếu

Trong thời kỳ mà Việt Nam là một tỉnh chính thức của đế quốc Trung Hoa (giờ đây thường được nói đến bởi các tác giả Việt Nam như thời “đô hộ của giặc Tàu”), chính quyền địa phương đã sử dụng tiếng Hoa cổ diển cho các tài liệu chính thức, trong giáo dục, và các cuộc khảo thí quốc gia. Các tài liệu sớm nhất (các bi ký trên các bia đá của thiên niên kỷ đầu tiên SCN) không chứa đựng, hay rất ít, các chữ “địa phương” được sắp xếp trên căn bản của Hán tự. Sau khi có sự tách biệt Việt Nam ra khỏi Trung Hoa trong thế kỷ thứ 10, một số lượng gia tăng các chữ địa phương xuất hiện trong các tài liệu văn bản. Chữ viết địa phương thiết kế trên căn bản Hán tự và dùng để ký tự ngôn ngữ Việt Nam được gọi là chữ Nôm . 2 Vài lần các nhà cai trị Việt Nam đã cố gắng để dùng chữ Nôm làm ngôn ngữ cho việc soạn thảo văn kiện chính thức và học thuật thay cho tiếng Hoa (Hán: 漢) cổ điển, nhưng Hoa ngữ cổ điển vẫn còn được dùng thường xuyên hơn. Ngay này từ ngữ “các sách Hán Nôm 漢 ” được dùng để chỉ toàn thể sưu tập các sách Việt Nam viết bằng Hoa ngữ cổ điển hay bằng tiếng Việt (dùng chữ Nôm), hay bằng cả hai ngôn ngữ hỗn hợp).

Các Cơ Sở Chiêm Tinh Và Thiên Văn Của Việt Nam: Một Tổng Quan

Cả hai thư tịch Trần và Gros (1993) và Liu và các tác giả khác (2002) đều không liệt kê các sách được bảo tồn trong vài sưu tập lớn chứa đựng các văn bản về chiêm tinh học. 12 Cũng có lý do để tin tưởng rằng một số các sách Hán-Nôm về chiêm tinh học từ thư viện Hoàng Triều tại Huế vẫn còn tồn tại; không may, chúng được bảo tồn trong các sưu tập tư nhân và do đó vẫn chưa được cung ứng cho sự nghiên cứu có hệ thống. Tổng quan về các tài liệu chính yếu trong bài viết này chính vì thế nhất thiết vẫn chưa đầy đủ.

Theo quyển 越 史 略 (Sơ Lược Lịch Sử Việt Sử Lược trong một bản sao lục hồi thế kỷ thứ 17 tập Hồng Đức Bản Đồ 洪 德 版 圖 (Các Bản Đồ Thiên Giám 司 天 監 Si tian jian, ty phụ trách Quan Sát Các Hiện Tượng Trên Trời). 19

Hình 1: Bản đồ Hà Nội từ tập Hồng Đức Bản Đồ

(hướng Tây ở trên cùng) cho thấy các địa điểm của Ti Thiên Giám 司 天 監 (A),

Điều vẫn chưa rõ rằng liệu ” Ti Thiên Giám ” nguyên thủy hồi đầu thế kỷ thứ 11 có phải đã được xây dựng tại địa điểm được thể hiện trên bản đồ hay không. Rất nhiều phần nó đã bị đóng cửa trong thời gian chiếm đóng của Trung Hoa (1407-1427), bởi nếu không, nó sẽ thách đố quyền hạn chuyên độc của các nhà chiêm tinh chính thức của Trung Hoa trong việc thực hiện và giải thích các sự nhận xét về thiên văn học. Người ta có thể ức đoán rằng định chế này đã được mở cửa lại không lâu sau sự triệt thoái của quân đội Trung Hoa, và đã duy trì hoạt động trong suốt thế kỷ thứ 17, khi một bản sao lục trình bày nơi Hình 1 được in ra.

Các sự trình bày về các hoạt động của các nhà thiên văn học và chiêm tinh học chuyên nghiệp được sử dụng bởi các nhà cầm quyền Việt Nam có thể được tìm thấy trong các hồi ký của các Tu Sĩ Dòng Tên người Ý Đại Lợi, Christophoro Borri (1583-1632) và Giovanni Filippo de Marini (1608-1682), các kẻ đã lần lượt đến thăm Đàng Trong: Cochinchina (Trung Kỳ Việt Nam) và Đàng Ngoài: Tonkin (Bắc Kỳ Việt Nam). Sự mô tả của Borri cho thấy rằng không chỉ Chúa Đàng Trong (Cochinchina), mà cả các ông hoàng, đều có các nhà chiêm tinh riêng của mình với công việc gồm cả sự tính toán các vụ nhật thực; de Marini mô tả một nghi thức đặc biệt được giả định sẽ được thực hiện bởi nhà vua trong ngày có nhật thực. 32 Các sự trình bày này khiến ta nghĩ rằng vào khoảng thế kỷ thứ 17, các nhà thiên văn học Việt Nam thụ hưởng một quy chế quan chức khá cao, rằng họ đã sử dụng các phương pháp của Trung Hoa về sự tiên đoán các vụ nhật thực, và rằng đôi khi họ không thể điều chỉnh một cách chính xác các phương pháp này với các vị trí (có nghĩa miền bắc và miền trung Việt Nam) nơi mà các vụ nhật thực được giả định sẽ được quan sát.

Các Sự Quan Sát Thiên Văn Được Thực Hiện Tại Việt Nam

Một định chế chính thức chịu trách nhiệm về các công việc thiên văn và làm sách lịch tiếp tục hiện hữu tại Việt Nam cho đến thế kỷ thứ 20. Một sự trình bày (có niên kỷ năm 1930) về văn phòng thiên văn/chiêm tinh Khâm Thiên Giám 欽 天 監, cơ quan kế nhiệm Ti Thiên Giám 司 天 監, 33 mô tả cơ cấu và nhân viên văn phòng thiên văn/chiêm tinh tọa lạc tại Huế, kinh đô của triều Nguyễn (1802-1945), và thuật lại một cách ngắn gọn lịch sử của nó, bắt đầu từ thời Hoàng Đế Minh Mạng (trị vì từ 1820-1841). 34

Theo các sự tường thuật quy ước, một số lượng lớn lao các sách trong các thư viện chính quyền Việt Nam đã bị mất vì cháy hay tịch thu bởi quân xâm nhập Trung Hoa hồi cuối thế kỷ thứ 14 – đầu thế kỷ thứ 15. Nếu, theo các truyền thuyết, vụ hỏa hoạn xảy ra trong cuộc lục soát kinh đô bởi người Chàm hồi năm 1371 đã hủy diệt bừa bãi một số không rõ các thư viện, quân xâm lăng Trung Hoa đã tịch thu theo lời cáo giác một số lượng lớn lao các quyển sách và chuyển chúng về Trung Hoa, đã nhắm, với nhiều xác xuất nhất, một cách đặc biệt vào các sách vở bị nhìn như khẳng định một cách biểu trưng sự độc lập của quốc gia Việt Nam, tức, trước tiên, các niên sử địa phương, các sách lịch, các văn bản thiên văn học và chiêm tinh học. 43

Ba truyền thống ảnh hưởng nhất của chiêm tinh học Trung Hoa, được trình bày trong học trình của Trường Toán Học thời nhà Tống như “ba lược đồ .

5. Như D. Marr đã viết về nó, “Vào khoảng 1930 ý tưởng rằng sự phát triển và phổ biến chữ Quốc Ngữ cấu thành các thành tố thiết yếu của cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do đã là một phần của mọi đề cương Việt Sử Lược Việt Sử Lược , có nghĩa “Trước Thềm Rồng xây Chính Dương Lâu正 陽 樓 là nơi để điều khiển đồng hồ bằng nước (clepsydra); cũng xem một bản dịch trong Polyakov không phải là một sự nhầm lẫn của kẻ sao chép, nó có thể chỉ các que đếm (hay thẻ bài) được dùng trong các sự tính toán thiên văn. Các que đếm này cũng được sử dụng bởi các nhà chiêm tinh Việt Nam cho đến thế kỷ thứ 17 hay còn sau hơn thế; xem Volkov 2009.

16. SL 1936: 61; Polyakov 1980: 206.

17. Các niên sử không đề cập đến vụ thiên thực hình vành khuyên ngày 4 Tháng Tám 1217, được trông thấy thấy Bắc Việt Nam, hay vụ thiên thực ngày 23 Tháng Năm 1221, được trông thấy tại Trung Hoa và Bắc Việt Nam. và 新 .

35. Ho 1964: 138, các được nói đến trong quyển Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đã cố ý được sắp đặt cho tương ứng với lịch sử chính trị của Việt Nam, bởi vì tất cả các vụ thiên thực ghi nhận được, ngoại trừ các vụ thiên thực của năm 479 và 1422, đều nằm trong các thời kỳ độc lập chính thức của Việt Nam ra khỏi Trung Hoa: thời kỳ từ 205 đến 122 TCN tương ứng với triều đại nhà Triệu 趙 Việt Nam (207-111TCN), vụ thiên thực năm 41 SCN xảy ra trong thời khoảng có sự nổi dậy của chị em Bà Trưng 徵 (40-43 SCN), và vụ thiên thực năm 547 nằm trong thời kỳ trị vì của nhà Tiền Lý Việt Nam (544-602). Vụ thiên thực vào ngày 8 Tháng Tư năm 479 là một vụ thiên thực hình vành khuyên, được nhìn thấy tại Ấn Độ và Trung Hoa, có thể khó nhìn thấy tại Việt Nam; ngược lại, vụ toàn thực ngày 20 Tháng Chín năm 461, được nhìn thấy hoàn toàn tại Bắc Việt Nam, lại không được liệt kê. Vụ thiên thực ngày 23 Tháng Một năm 1422 cũng không được nhìn thấy tại Việt Nam.

37. SL 1936: 30; Polyakov 1980: 149.

38. Ho 1964: 139, số 29.

39. SL 1936: 61; Polyakov 1980: 206.

40. Hai vụ thiên thực này là: (1) một vụ vào ngày đầu tiên của Tháng Mười Một năm 1105 (thiên thực một phần), xem SL 1936: 42; và Polyakov 1980: 173, và (2) vụ xảy ra ngày đầu tiên của tháng thứ nhì năm 1188, xem SL 1936: 57, và Polyakov 1980: 198. Sự ghi chép vụ trước có lẽ tương ứng với vụ thiên thực vào ngày 16 Tháng Mười Hai năm 1107, và vụ kể sau tương ứng với vụ thiên thực vào ngày 17 Tháng Hai năm 1189; cả hai vụ thiên thực đều được nhìn thấy tại Việt Nam.

41. Vụ thiên thực vào ngày đầu tiên của tháng thứ mười năm 1093; xem SL 1936: 41; Polyakov 1980: 170. Từ 1081 đến 1100 đã chỉ có hai vụ thiên thực có thể được nhìn thấy tại Hà Nội: một vụ vào ngày 19 Tháng Ba năm 1094, và vụ kia vào ngày 14 Tháng Mười năm 1083. Không có vụ thiên thực nào được nhìn thấy tại Trung Hoa trong thời khoảng này.

42. Xem Nam Ông Mộng Lục (Ghi chép về các giấc mơ của một Ông Già từ Phương Nam) 南 翁 夢 錄 Nan weng meng lu, của Hồ Nguyên Trừng 胡 元 澄 (cũng được biết là Lê Trừng 黎 澄, 1374?-1446?), đoạn trích dẫn liên hệ như sau:

(Người này đã biên soạn quyển Bách Thế Thông Kỷ Thư 百 世 通 紀 書, khởi đầu với cấu hình của chùm sao nguyên thủy của vua Nghiêu đã tính toán (?) các sự giao hội giữa mặt trăng và mặt trời, và các vụ thiên thực, các độ đo rất phù hợp với thời thượng cổ.); cũng xem Knorozova 2009: 156-157.

43. Trần 1938: 43, n. 3; Cadière và Pelliot 1904: 619, n. 3.

45. Ho 2003: 36.

46. Ho 2003: 36-40:171, số 79, 568, số 23.

47. Thành phần này của phương thức bói toán rõ ràng đã bị sửa đổi khi được truyền bá tại Việt Nam.

48. Ho 2003: 66-68.

51. Ho 2003: 74-82.

52. Ho 2003: 83-84.

53. Kalinowski 1983.

54. Ho 2003: 113-119.

55. Ho 2003: 137.

58. Trần 1938: 106-107.

60. Muốn có các dữ liệu tiểu sử của Xu Xun (Hứa Tốn) như được tìm thấy Daozang (Đạo Tang) và sự sùng bái ông ta, xem Boltz 1987: 70-78.

. BNV R. 293.

3. Chiêm Bốc Tạp Nghiệm 占 卜 雜 驗 ( Zhan bu za yan) Các cách thức bói toán linh tinh). TG 440; L 2491.

4. Chiêm Luận Sự Niên Nguyệt Nhật Thì Tích 占 論 事 年 月 日 辰 跡 ( Zhan lun shi nian yue ri chen ji) ((Bói Toán dựa trên năm, tháng, ngày, và chùm sao Môn 遁 甲奇 門 (Dun jia qi men) ( Lục Nhâm và của Cuộc Đại Lẩn Tránh}. TG 2078; L 2508.

19. Lục Nhâm Đại Độn 六 壬 大 遁 (Liu ren da dun) { Lục Nhâm và của Cuộc Đại Lẩn Tránh}. TG 2080; L 2478.

21. Lục Nhâm Kinh Vĩ Lược 六 壬 經 緯 略 (Liu ren jing wei lue) (Tóm lược Kinh Sách và Kinh Ngụy Tác về Lục Nhâm. TG 2082; L 2479.

22. Lục Nhâm Quốc Ngữ 六 壬 國 語 (Liu ren guo yu) (]. TG 2083; L 2480.

23. Lục Nhâm Tiện Lãm 六 壬 便 覽 (Liu ren bian lan) (Tóm lược dành cho độc giả về Lục Nhâm). TG 2084; L 2481.

24. Mã Tiền Bốc Pháp 馬 前 卜 法 (Ma qian bu fa) (Các phương pháp bói toán rương bằng ngọc). Của Hứa Chân Quân 許 真 君 (Xu Xun: 許 遜 Hứa Tốn). TG 4744; L 2511.

26. Ngọc Hạp Toản Yếu 玉 匣 纂 要 (Yu xia zuan yao) (Cốt yếu của sự biên soạn từ Rương Bằng Ngọc). TG 4745; L 2483.

27. Ngọc Hạp Toản Yếu Thông Dụng 玉 匣 纂 要 通 用(Yu xia zuan yao tong yong) (Sự sử dụng thông thường các điều cốt yếu của sưu tập từ Rương Bằng Ngọc). In năm 1926. BNV R.2227.

28. Ngọc Trướng Huyền Cơ 玉 帳 玄 機 (Yu zhang xuan ji) ( Huyền Bí và Trướng Treo Ngọc). TG 2354; L 2488.

30. Ngọc Trướng Huyền Cơ Bí Pháp 玉 帳 玄 機 泌 法 (Yu zhang xuan ji bi fa) (Các phương pháp bí mật của Bộ Máy Huyền Bí và Trướng Treo Ngọc). TG 2356; L 2490.

31. Quỷ Cốc Đại Định Hoàng Tuyền Số 鬼 谷 大 定 黃 泉 數 (Gui gu da ding huang quan shu) ( Suối Vàng, được ấn định một cách uy nghiêm bởi 65 數 (Ce sách). TG 2921; L 2494.

34. Số Pháp Thư 數 法 書 (Shu fa shu) (Kinh sách về các phương pháp coi số). TG 2966; L 2502。

35. Tân San Lục Nhâm Đại Độn Bí Truyền 新 刊 六 壬 大 遁 泌 傳 (Xin kan Liu ren da dun bi chuan) (Truyền thống bí mật mới được ấn hành về Ba Pháp 神 歷 雜 忌 法 (Shen li za ji fa) (Các phương pháp khác nhau về lịch trình của các thần linh). TG 3388; L 2521.

42. Thiên Văn Thể 天 文 體 (Tian wen ti) (Cấu trúc (?) của các thiên thể). TG 3543; L 2474.

43. Thông Thư Chính Quyển 通 書 正 巻 (Tong shu zheng quan) Niên Giám: quyển chính thống). TG 3601; L 2497.

44. Thông Thư Quảng Ngọc Hạp Ký 通 書廣 玉 匣 記 (Tong shu guang Yu Xia ji) (Niên Giám cùng với Ngọc Hạp Ký triển khai). In năm 1876. TG 4926; L 2513.

45. Tiền Định Lâp Thành 前 定 立 成 (Qian ding li cheng) ({Cẩm Nang} lập sẵn để xác định số phận đã định). TG 3724; L 2495.

47. Tử Vi Đẩu Số 紫 微 斗 數 (Zi wei dou shu) (Đoán số mệnh theo phương pháp của Tử Vi). TG 4992; L 2515.

48. Tử Vi Đẩu Số Giải Âm 紫 微 斗 數 解 音 (Zi wei dou shu jie yin) (Các sự giải thích và xem ). TG 4104; L 2510.

53. Tuyển Trạch Thông Thư Đại Toàn 選 擇 通 書 大 全 (Xuan ze tong shu da quan) (Các đề tài tuyển trạch từ bản tóm lược tổng quát các niên giám). Một bản sao của MS ghi niên kỳ năm 1880. TG 4044; L 2503.

B. Các Niên Sử Việt Nam

CM 1969 – Trần Văn Vi 陳 文 為 và các tác giả khác, đồng biên tập, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục 欽 定 越 史 通 鑑 綱. Taipei: Guoli zhongyang tushuguan.

SL 1936 – Việt Sử Lược (2009). “Лунно-солнечнЫй каленларЬ на ЛалЬнем Востоке: вЬетнамский вариант” (Âm-Dương (Luni-Solar) lịch tại vùng Viễn Đông: một phiên bản của Việt Nam). ПроблемЫ ДалЬнеƨо Восмока, no. 4: 158-162.

FRIEDSAM, Manfred (2003). “L’enseignement des mathématiques sous les Song et Yuan.” In C. Despeux and C. Nguyen Tri {eds.). Éducation et instruction en Chine, vol. 2 {Les formations spécialisées), Paris/Louvain. Éditions Peeters: 49-68.

GASPARDONE, Emile (1934). “Bibliographie Annamite.” BEFEO, fasc. 1: 1-173.

HAN Qi 韓 琦 Hàn Kỳ (1991). “Zhong Yue lishi shang tian wen xue yu shuxue de jiaoliu 中 越 歷 史 上 天 學 與 數 學 的 交 流 Trung Việt lịch sử thượng văn học dữ số học đích giao lưu (Sự tương tác giữa thiên văn học và số học của Trung Hoa và Việt Nam trong lịch sử).” Zhongguo keji shiliao 中 國 科 技 史 料 Trung quốc khoa kỹ sử liệu, quyển 12.2: 3-8.

Ho Peng Yoke (1964). “Natural phenomena recorded in the Đại Việt sử ký toàn thư, an early Annamese historical source.” Journal of the American Oriental Society, vol. 84.2: 127-149.

Ho Peng Yoke (2003). Chinese Mathematical Astrology: Reaching out to the Stars. London and New York, RoutledgeCurzon.

HUARD, Pierre, và DURAND, Maurice (1954). Connaissance du Viet-Nam. Paris/Hanoi, Imprémerie Nationale/École Française d’Extrême-Orient.

HUCKER, Charles O. (1985, bản in lại năm 1988). A Dictionary of Official titles in Imperial China. Taibei, Southern Materials Center (bản in lại năm 1988; nguyên thủy được ấn hành bởi Stanford University Press năm 1985).

KALINOWSKI, Marc (1983). “Les instruments astro-calendriques des Han et la méthode Liu Ren.” Bulletin de l’École française d’Extrême-Orient, tập 72: 309-419.

KALINOWSKI, Marc (1989). “La littérature pinatoire dans le Daozang.” Cahiers d’Extrême-Asie, vol. 5: 85-114.

KALINOWSKI, Marc (tr.) (1991). Cosmologie et pination dans la Chine ancienne. Le Compendium de Cinq Agents (Wuxing dayi, VIè siècle). Paris, EFEO.

KALINOWSKI, Marc (éd.) (2003). Divination et société dans la Chine médiévale. Paris, Bibliothèque Nationale de France.

KNOROZOVA, Ekaterina , University of California Press.

MORGAN, Carole (1980). Le Tableau du boeuf du printemps. Étude d’une page de l’almanach chinois. Paris, Collège de France, Institut des Hautes Études Chinoises.

MORGAN, Carole (1987). “La pination d’après les croassements des corbeaux dans les manuscrits de Dunhuang.” Cahiers d’Extrême-Asie, vol. 3: 55-76.

NGUYỄN Đình Hòa (1959). “Chữ Nôm, the Demotic System of Writing in Vietnam.” Journal of the American Oriental Society, vol. 79, no. 4: 270-274.

NGUYỄN Đình Hòa (1990). “Graphemic borrowing from Chinese: the case of chữ nôm, Vietnam’s demotic script.” Bulletin of the Institute of History and Philology, Academia Sinica .

PAPIN, Philippe (2001). Histoire de Hanoi. Paris, Fayard.

POISSON, Emmanuel (2004). Mandarins et subalternes au nord du Viêt Nam (1820-1918) – une bureaucratie à l’épuve. Paris, Maisonneuve et Larose.

POLYAKOV, Aleksei sciences sociales.

TRỊNH Văn Thao (1995). L’École française en Indochine. Paris, Karthala.

VĂN An Vi (2008). “A Thai Divination Kit in the Vietnam Museum of Ethnology.” Asian Ethnology, vol. 67, no. 2: 257-269.

VARGYAS, Gabor (2004). “Thuật Tiên Tri trong Lễ Lên Đồng của Người Bru” : 537-548.

VOLKOV, Alexei (2009). “Mathematics and Mathematics Education in Traditional Vietnam.” Trong sách đồng biên tập bởi E. Robson và J. Stedall, Oxford Handbook of the History of Mathematics, Oxford, Oxford University Press: 153-176.

VOLKOV, Alexei (2012). “Argumentation for State Examinations: Demonstration in Traditional Chinese and Vietnamese mathematics.” Trong sách biên tập bởi K. Chemla, The History of Mathematical Proof in Ancient Traditions, Cambridge, Cambridge University Press: 509-551.

WHITMORE, John. K. (1995). “Cartography in Vietnam,” trong sách đồng biên tập bởi J. B. Harley và David Woodward, The History of Cartography, vol. 2, book 2: 478-508.

Alexei Volkow

Nguồn: Alexei Volkov, Astrology and Hemerology in Tradional Vietnam, Extrême-Orient, Extrême-Occident, 35 – 2013, các trang 113 – 140.

Ngô Bắc dịch


Bạn đang xem chủ đề App Bói Toán trên website Xuatannanghe.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!